Tổng hợp

Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý với vùng đặc quyền kinh tế?

Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý với vùng đặc quyền kinh tế? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế. Hoạt động buôn bán dầu trên vùng EEZ của tàu thuyền nước ngoài.

Bạn đang xem: Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý với vùng đặc quyền kinh tế?

Vùng đặc quyền kinh tế và vùng biển quan trọng lại vô cùng nhạy cảm, là nơi thường xuyên xảy ra tranh cấp, Tranh chấp trên biển hiện đang là một vấn đề nóng của Việt Nam, từ vụ giàn khoan của Trung Quốc, việc xây dựng trái phép của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho đến vụ ngư dân Việt Nam bị các quốc gia khác bắt khi đang đánh cá, mới đây nhất, Việt Nam cũng đã bắt một tàu của Trung Quốc vì xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam.

1. Vùng đặc quyền kinh tế là gì?

Điều 15 Luật biển Việt Nam 2012 quy định về Vùng đặc quyền kinh tế nhu sau:

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone – EEZ) là một trong hai vùng biển mới được xác lập theo tại UNCLOS III (bên cạnh Vùng đáy biển quốc tế). Trước UNCLOS 1982, bên ngoài của lãnh hải là biển cả với vùng tiếp giáp lãnh hải là một phần của biển cả. Với việc xác lập vùng EEZ biển cả bị đẩy ra xa bờ hơn và do đó bị thu hẹp đáng kể; bên cạnh đó vùng tiếp giáp lãnh hải sẽ chồng lấn lên vùng EEZ.

Vùng EEZ là vùng biển bao gồm cả phần nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải và rộng tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở Tùy thuộc vào chiều rộng của lãnh hải mà chiều rộng của vùng EEZ sẽ tương ứng từ 188 đến 200 hải lý. Việt Nam xác lập lãnh hải rộng 12 hải lý do đó vùng EEZ sẽ rộng 188 hải lý  lãnh hãi

Vùng đặc quyền kinh tế trong tiếng Anh được hiểu là Exclusive Economic Zone. Viết tắt là EEZ.

2. Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế:

Điều 16 Luật biển Việt Nam 2012 quy định Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

1. Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện:

a) Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế;

b) Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

c) Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

2. Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan.

4. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này.

2.1. Quyền của quốc gia ven biển:

Điều 56 UNCLOS ( Công ước Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc) quy định quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán mang tính chất độc quyền trên vùng EEZ. Theo đó, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền trong việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và phi sinh vật, và các hoạt động thăm dò, khai thác kinh tế khác, như tạo năng lượng từ nước, dòng chảy và gió. Quyền chủ quyền không chỉ bao gồm quyền được trực tiếp thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên, mà bao gồm tất cả các quyền cần thiết cho hay liên quan đến các hoạt động đó. Quyền tài phán của quốc gia ven biển liên quan đến ba lĩnh vực: (i) xây dựng và sử dụng đảo nhân đạo, công trình và cấu trúc nhân tạo, (ii) nghiên cứu khoa học biển, và (iii) bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Trong các lĩnh vực thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, mọi hoạt động đều cần phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển.

2.2. Quyền của các quốc gia khác:

Vùng EEZ không thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển và do đó các quốc gia khác có nhiều quyền rộng rãi hơn so với trong lãnh hải. Trong lãnh hải, các quốc gia khác chỉ có quyền qua lại vô hại (bên cạnh quyền miễn trừ dành cho tàu chiến). Trong vùng EEZ, các quốc gia khác có các quyền tự do về hàng hải, hàng không và lắp đặt cáp và ống ngầm Trong 6 tự do biển cả cơ bản, trong vùng EEZ các quốc gia khác được hưởng ba tự do.

Ngoài ra Điều 58(2) quy định các Điều 88 đến 115 của Công ước cũng áp dụng cho các quốc gia khác trên vùng EEZ của quốc gia ven biển, bao gồm các quy định về thẩm quyền đối với tàu thuyền của quốc gia mà tàu mang cờ, quyền miễn trừ đối với tàu chiến, quyền thăm tàu (right of visit), quyền truy đuổi nóng (right of hot pursuit), các quy định liên quan đến chống cướp biển và các hoạt động bị cấm.

2.3. Nghĩa vụ xem xét thích đáng:

Do đặc thù của vùng EEZ là một lãnh thổ hỗn hợp, cân bằng giữa quyền của quốc gia ven biển và các quốc gia khác nên tất cả các quốc gia khi thực thi quyền của mình trên vùng biển này có nghĩa vụ phải xem xét thích đáng đến quyền và nghĩa vụ của nhau. Nghĩa vụ xem xét thích đáng này (duty of due regard) nhằm bảo đảm các quốc gia không lạm quyền hoặc thực thi quyền của mình theo cách thức gây thiệt hại, ảnh hưởng đến việc hưởng quyền của các quốc gia khác.

2.4. Phân chia thẩm quyền đối với các hoạt động chưa được quy định trong Công ước:

Điều 59 dự trù một nguyên tắc để giải quyết các xung đột có thể xảy ra khi trong tương lai các quốc gia sẽ có các hoạt động sử dụng vùng EEZ mới mà chưa được quy định trong Công ước, giúp các quốc gia phân chia thẩm quyền đối với những hoạt động mới này. Điều 59 quy định:

“Trong trường hợp Công ước này không phân chia quyền hay quyền tài phán cho quốc gia ven biển hay quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế, và có xung đột phát sinh giữa lợi ích của quốc gia ven biển và bất kỳ quốc gia khác nào, xung đột này nên được giải quyết trên cơ sở công bằng (equity) và phù hợp với tất cả các hoàn cảnh hữu quan, xem xét đến tầm quan trọng tương ứng của các lợi ích liên quan đối với các quốc gia cũng như đối với toàn thể cộng đồng quốc tế.”

Việc xác định quốc gia nào có thẩm quyền đối với một hoạt động mới trên vùng EEZ đòi hỏi xác định lợi ích của các bên và sau đó tiến hành đánh giá tất cả các yếu tố liên quan trên cơ sở công bằng. Điều 59 gợi ý rằng các thẩm quyền đối với các hoạt động mới sẽ được giải quyết trên cơ sở từng vụ việc cụ thể

2.5. Hoạt động thực thi pháp luật chống lại các vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán trên EEZ:

Điều 73 Công ước luật Biển 1982 quy định quốc gia ven biển có thể thực thi các biện pháp cần thiết để bảo đảm việc tuân thủ các quy định và pháp luật của mình trên vùng EEZ, với điều kiện các quy định và pháp luật đó phải phù hợp với Công ước và điều chỉnh việc thực thi quyền chủ quyền trong thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật. Các biện pháp có thể bao gồm lên tàu, lục soát, bắt giữ và tố tụng tư pháp. Riêng đối với các vi phạm về đánh bắt cá quốc gia ven biển không được áp dụng án phạt tù, hay tử hình nếu không có thỏa thuận với quốc gia liên quan. Khi bắt giữ, tạm giữ hay trừng phạt tàu thuyền nước ngoài quốc gia ven biển phải thông báo nhân chóng đến quốc gia mà tàu mang cờ, đồng thời phải thả tàu và thủy thủ nếu họ nộp một khoản bản đảm hợp lý.

Điều 73 này chỉ áp dụng đối với việc thực thi pháp luật liên quan đến tài nguyên sinh vật, Công ước không có quy định riêng áp dụng đối với vi phạm quyền chủ quyền liên quan đến tài nguyên phi sinh vật. Công ước còn một quy định khác ở Điều 230 hạn chế thẩm quyền thực thi pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến hành vi vi phạm liên quan đến ô nhiễm môi trường biển. Điều 230 chỉ cho phép áp dụng duy nhất hình phạt tiền chi hành vi vi phạm thuộc loại này, trừ trường hợp hành vi vi phạm là cố ý và nghiêm trọng xảy ra trong lãnh hải (khoản 2, Điều 230).(*) Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng trong vụ Virginia G Tòa ITLOS đã khẳng định quyền chủ quyền của quốc gia ven biên bao gồm cả quyền áp dụng các biện pháp thực thi pháp luật cần thiết.

2.6. Hoạt động buôn bán dầu trên vùng EEZ của tàu thuyền nước ngoài:

Hoạt động buôn bán dầu trên biển (bunkering) trong vùng EEZ là hoạt động hỗ trợ mang lại nhiều lợi ích cho các tàu thuyền hoạt động trên vùng EEZ, đặc biệt là tàu đánh bắt cá. Các tàu đánh bắt cá sẽ không phải quay vào bờ để tiếp nhiên liệu mà có thể mua nhiên liệu ngay trên biển để tiếp tục đánh bắt cá. Hoạt động này làm giảm chi phí cho tàu thuyền, kéo theo đó là làm tăng lợi nhuận cho ngư dân. Cần lưu ý rằng hoạt động mua bán dầu trên vùng EEZ có hai hình thức chính, một là buôn bán dầu cho ngư dân phục vụ đánh bắt cá và hai là buôn bán dầu vì mục đích khác như buôn lậu.

Trong khi Công ước không trao quyền cho quốc gia ven biển được áp dụng pháp luật về hải quan để xử lý hành vi buôn bán dầu để buôn lậu vào đất liền, việc buôn bán dầu cho ngư dân mà không được sự đồng ý của quốc gia ven biển được xem là vi phạm quyền chủ quyền của quốc gia ven biển.

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!