Tổng hợp

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất năm 2022

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hợp đồng mua điện thoại trả góp. Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác xử lý như thế nào?

Tóm tắt câu hỏi:

Xin chào luật sư. Em có 1 vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp ạ. Cách đây 1 tháng, em có nhu cầu vay tiền trả góp. Em tìm trên mạng xã hội facebook thì thấy bạn này có nói là cho vay trả góp. Sau đó em có liên hệ với bạn ý để đăng ký vay trả góp. Và bạn ý đồng ý. Sau đó bạn ý hẹn em đến 1 địa chỉ để làm thủ tục vay trả góp. Sau khi em đến thì bạn ý dẫn em vào cửa hàng điện thoại. Rồi bảo em ký vào hợp đồng mua điện thoại trả góp. Đến khi làm thủ tục xong thì người đó bảo em cứ về đi rồi bạn ý chuyển tiền sau. Nhưng đến giờ em vẫn chưa nhận được gì. Vậy luật sư cho em hỏi hành vi của bạn đó được cấu thành tội lừa đảo không ạ? Và em có thể tố cáo bạn kia được không ạ. Điều nữa là em cũng không biết rõ địa chỉ. Tên tuổi bạn kia ạ. Mong luật sư tư vấn giúp em ạ. Em mxin chân thành cám ơn ạ

Bạn đang xem: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất năm 2022

Luật sư tư vấn:

Tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…”

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài:

Theo như thông tin bạn cho biết, bạn muốn vay tiền trả góp. Nhưng bên nhận cho vay lại bắt bạn kí vào hợp đồng mua điện thoại trả góp. Khi bạn đã kí vào hợp đồng mua điện thoại trả góp, bên cho vay hứa hẹn sau đó sẽ chuyển tiền cho bạn. Nhưng đến thời điểm hiện tại, bạn vẫn chưa nhận tiền. Vì vậy, căn cứ vào quy định trên, bên cho vay tiền ở đây đã có thủ đoạn gian dối trong hợp đồng cho vay. Trong trường hợp này, nếu số tiền trong hợp đồng mua điện thoại trả góp có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên thì sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Bạn có thể viết đơn tố cao gửi đến cơ quan công an nơi bạn đang cư trú.

1. Hưởng án treo đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Tóm tắt câu hỏi:

Anh trai tôi bị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện truy tố về tội lừa đảo theo Điều 174 khoản 2 điểm c. Tuy nhiên, anh tôi đã khắc phục hậu quả, là lao động chính đang nuôi 02 con nhỏ dưới 6 tuổi và chưa có tiền án tiền sự, gia đình có ông nội tôi có công với cách mạng. Hành vi này mức án thế nào, có được hưởng án treo không? Xin cám ơn!

Luật sư tư vấn:

Tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

…”

Bên cạnh đó, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định về Án treo cụ thể:

1. Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

5. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.”

Như vậy, trong trường hợp nói trên, anh trai bạn bị Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện truy tố về tội lừa đảo theo Điều 174 khoản 2 điểm c “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và tùy thuộc vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà anh trai bạn có thể bị Tòa án nhân dân tuyên phạt hình phạt tù với mức hình phạt từ 2 đến 7 năm tù.

Mặt khác, nếu hành vi phạm tội nói trên của anh trai bạn bị Tòa án xử phạt tù nhưng không quá ba năm. Anh trai bạn có nhân thân tốt, các tình tiết mà bạn kể trên được Tòa án xác định là các tình tiết giảm nhẹ và nếu Tòa án xét thấy không cần phải bắt anh trai bạn phải chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án có thể cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Giả danh nhân viên ngân hàng lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt câu hỏi:

Bố mẹ em ở quê đến nay cũng được 56 tuổi. Hồi đó học thức còn kém, có một chị làm quen nói là làm bên ngân hàng nhưng thực chất không phải vậy, chị đó nói sẽ vay giúp một số tiền kêu cha mẹ em làm một hợp đồng ủy quyền vay vốn giúp nhưng sau khi nhận được hợp đồng chị đó trốn mất và sang tên toàn bộ tài sản của nhà em. Vậy cho em hỏi, gia đình em có thể khởi kiện ở đâu và liệu có đòi lại được quyền lợi không? (Trần Anh Trung – Châu Thành, Tiền Giang).

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Điều 562 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

 Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

 “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

…”

Hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản ở đây phải được thể hiện rõ ràng qua thủ đoạn gian dối. Như thông tin bạn cung cấp, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bố mẹ bạn người này còn giả danh là nhân viên ngân hàng vay vốn giúp (nói dối, cung cấp thông tin sai sự thật về bản thân) để đánh lừa lòng tin của của bố mẹ bạn, sau đó có hành vi kêu bố mẹ bạn làm hợp đồng ủy quyền vay vốn và sau khi nhận được hợp đồng thì người này bỏ trốn, sang tên toàn bộ tài sản của nhà bạn, rõ ràng hành vi gian dối đã xảy ra và mục đích chiếm đoạt tài sản của người đó đã thực hiện. Vì vậy, bạn có thể trình báo với công an để khởi tố về hành vi này. Bởi vì người này lừa đảo chiếm đoạt toàn bộ tài sản của gia đình bạn.

3. Xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác

Tóm tắt câu hỏi:

Nay tôi viết email này vì muốn nhận được sự tư vấn của Luật sư. Vì tôi chỉ là dân quê nên đôi lúc không hiểu về pháp luật cho lắm. Nên kính mong luật sư dành chút ít thời gian tư vấn về 1 chuyện. Câu chuyện cụ thể là: Năm 2018 mẹ tôi có đưa em trai lên Sài Gòn học lớp 7 tại 1 trường tư thục nội trú, lúc đó anh trai tôi có sống cùng với 1 người phụ nữ tại phòng trọ ở Quận 9. Ban đầu mẹ tôi có giao cho anh tôi 1 cái thẻ ATM (đây là thẻ ATM để công ty ở quê mẹ tôi làm việc dùng để chuyển tiền lương hàng tháng vào thẻ) để anh trai tôi dùng vào việc đóng tiền học cho em trai. Vì anh trai tôi rất vụng về trong chuyện tiền bạc, và theo lời Hải (người yêu của anh tôi) là đưa thẻ cho Hải giữ sẽ tốt hơn. Vì quen nhau cũng gần 3 năm nên anh tôi tin tưởng giao cho  Hải. Nhưng số tiền trong thẻ vẫn chưa cùng dùng đến vì thời gian đầu ba tôi có gửi tiền lên để đóng tiền học cho em trai tôi. Sau khi em tôi lên lớp 8 thì mới bắt đầu dùng đến số tiền trong thẻ để đóng học phí.

Thời gian đầu thì H có đóng học phí đàng hoàng. Nhưng không hiểu vì sao đến cuối năm lớp 7 thì nhà trường gọi điện về cho mẹ tôi là tiền học còn thiếu hơn 10 triệu đồng. Lúc đó mẹ tôi gọi điện cho Hải thì Hải nói là đã đóng rồi. Sau đó mẹ tôi gọi điện lại cho trường thì nhận được câu trả lời là chưa đóng. Và còn nói với trường là mẹ tôi bị bệnh tim nên đừng gọi điện cho mẹ tôi biết. Nhưng mẹ tôi lại hoàn toàn khỏe mạnh. Khi mẹ tôi nói với Hải là mình có đóng tiền thì vẫn còn biên lai làm sao mà nhầm lẫn được. Nhưng thực chất vào năm 2014 mẹ tôi biết là lúc đó Hải vẫn chưa đóng học phí. Và tương tự đến năm lớp 8 vào cuối năm học mẹ tôi cũng nhận được 1 cuộc gọi là chưa đóng tiền học từ nhà trường. Tính đến từ lúc mẹ tôi vào công ty làm việc là năm 2017 tiền lương mẹ tôi dành dụm được trong thẻ cho đến nay cũng được hơn 40 triệu mấy trăm.

Vào  khoảng cuối năm em tôi học lớp 8 mẹ tôi có vài lần yêu cầu Hải trả lại thẻ, nhưng Hải dùng nhiều lí do và không đưa thẻ lại. Có 1 lần ba tôi cần 15 triệu đồng và tôi cần 5 triệu đồng để đóng học phí. Mẹ tôi đã yêu cầu Hải trả thẻ lại. Nhưng sang ngày hôm sau, ngày Hải hẹn đưa thẻ thì từ sáng cho đến chiều, cả nhà tôi đã gọi hơn chục cuộc điện thoại nhưng Hải vẫn chần chừ nói nhiều lí do và không mang thể lên cho mẹ tôi. Đến chiều Hải gọi tôi lên nhà chị Hằng (là vợ của bạn anh trai tôi) theo tôi biết thì mối quan hệ giữa Hải và Hằng rất thân. Vì Hải nói chở mẹ đi công việc nên không ghé nhà tôi được. Tôi cứ nghĩ là lên nhà chị Hằng lấy thẻ để đi rút tiền. Nhưng khi gặp thì Hằng đưa tôi số tiền là 20 triệu đồng. Tôi liền gọi cho Hải và Hải nói là rút tiền sẵn cho tôi. Tôi đã có chút nghi ngờ nhưng do có đủ số tiền nên tôi không nghĩ gì nữa.

Và đến bây giờ tháng 5/2022 chính mẹ của Hải nói là lúc đó Hải kêu đưa 20 triệu để trả cho chị Hằng, chứ không biết là Hải chỉ lừa gạt mẹ để có đủ tiền đưa cho tôi để che lấp chuyện trong thẻ ATM không còn tiền nữa. Và gần cuối năm 2019 Hải về nhà theo yêu cầu của gia đình và giao thẻ lại cho anh trai tôi. Nhưng trong thẻ đã không còn tiền. Vì thực ra 20 triệu đã đưa thì trong thẻ vẫn còn hơn 20 mấy triệu. Nay gia đình yêu cầu Hải trả tiền thì Hải đã dùng nhiều lí do để không trả. Bản chất Hải là 1 con người không thật thà, nhiều lần sửa ngày tháng biên lai thu học phí của em trai tôi, để nói là mình đã đóng tiền rồi và do nhà trường in nhầm số tháng. Hải đã nghỉ học từ năm lớp 10 vì lí do có thái độ không tốt với giáo viên, khi yêu cầu hải mời phụ huynh thì Hải đã tự ý nghỉ học nhưng vẫn nói dối gia đình. Hàng ngày Hải vẫn tới trường nhưng không vào trường, cứ như vậy cho đến năm lớp 12 và nói với gia đình là đã học xong cấp 3. Sau đó Hải nói là mình thi đậu cao đẳng và lên Sài Gòn học và ở chung với anh trai tôi. Nhưng được 1 năm thì vì lười nên Hải đã nghỉ học, nhưng vẫn dối gia đình. Nhiều lần còn nói là nhận được học bổng của trường, có bằng tiếng anh đủ thứ nhưng thực chất là sống bám vào anh trai tôi. Vì thương nên anh tôi đã cho Hải thời gian để trả đủ số tiền nhưng Hải vẫn không trả được. Nay tôi muốn kiện Hải về tội cố tình chiếm đoạt tài sản với giá trị là hơn 20 triệu đồng thì có được không ạ. Và có thể đòi lại tiền được không. Vì nhiều lần gia đình tôi đã yêu cầu nhưng Hải vẫn cố tình không trả và đưa ra nhiều lí do để biện minh. Vì lúc giao thẻ mẹ tôi không làm giấy tờ nên bây giờ tôi thực sự không biết vào làm sao để nhờ pháp luật can thiệp yêu cầu Hải và gia đình Hải trả lại số tiền đó. Vì đó là mồ hôi nước mắt của mẹ tôi. Kính mong nhận được sự tư vấn của quý luật sư giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được hồi âm sớm .

Luật sư tư vấn:

Hành vi của Hải cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm của Hải phải đáp ứng các yêu tố: “Dùng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản của người khác”. Cụ thể hơn, 4 yếu tố cấu thành tội phạm được thể hiện như sau:

1. Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.

Trường hợp của bạn, khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là số tiền 20 triệu đồng trong thẻ ATM của mẹ bạn mà Hải đã rút nhưng không trả.

2. Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ chủ thể nào từ đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự.

Trường hợp của bạn, Hải đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. vì theo như thông tin bạn cung cấp, đối tượng đã nói mình học trung cấp, vì vậy đã trên 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyên giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt tài san. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.

Về hành vi: có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

+ Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như lời nói, chữ viết, hành động để chiếm đoạt tài sản. Phân tích:

Trường trường hợp của bạn:

Khi mẹ bạn đưa thể ATM cho anh trai bạn giữ thì H đã nói và theo lời Hải “là đưa thẻ cho Hải giữ sẽ tốt hơn”.

Tiếp theo, Hải chưa đóng học phí cho em trai bạn, số tiền còn thiếu là 10 triệu đồng và nhà trường đã gọi điện về cho mẹ bạn.Nhưng khi mẹ bạn (chủ sở hữu tài sản) hỏi Hải thì hải đã dùng thủ đoạn gian dối bằng lời nói là bảo với mẹ bạn Hải đã đóng tiền rồi. Hơn thế nữa, khi nhà trường hỏi Hải, Hải đã cung cấp thông tin sai sự thật về mẹ bạn là bà bị bênh tim nên không nên gọi tiếp cho bà vì lý do sức khỏe ( sự thực là mẹ bạn hoàn toàn khỏe mạnh).

Hải còn nhiều lần sửa ngày tháng biên lai thu học phí của em trai bạn để nói là mình đã đóng tiền rồi và do nhà trường in nhầm số tháng.

Đến năm tiếp theo, mẹ bạn lại nhận được cuộc gọi chưa đóng tiền học phí từ nhà trường và đã đề nghị Hải trả lại tiền. Tuy nhiên, Hải đã rút 20 triệu và đưa cho bạn để che dấu việc trong thẻ không còn tiền (20 triệu đồng) vẫn còn tiền trong thẻ, bạn đã tin tưởng Hải nhận số tiền đó mà không đòi lại thẻ.

Đến cuối năm 2019 Hải được gia đình bạn yêu cầu trả lại thẻ nhưng Hải đã cố tình không trả và đưa ra nhiều lý do để biện minh.

+ Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả dùng thủ đoạn gian dối. Phân tích:

Trong trường hợp của bạn, Hải đã cố tình rút số tiền là 20 triệu đồng (không rõ thời gian) và chỉ đưa lại cho bạn 20 triệu đồng sau khi bị đòi rất nhiều lần và bị nhà trường phản ánh với mẹ bạn về chuyện chưa đóng tiền học phí. Ở đây, Hải đã dùng thủ đoạn gian dối làm gia đình bạn tin tưởng giao tài sản cho mình sau đó chiếm đoạt tài sản đó.

+ Dấu hiệu khác:

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải trên hai triệu đồng trở lên. Trường hợp của bạn, số tiền mà Hải chiếm đoạt là 20 triệu đồng, như vậy đã thỏa mãn dấu hiệu trên.

4. Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội (Hải) nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện là hành vi gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác (mẹ bạn và gia đình bạn) bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Ý thức chiếm đoạt tài sản phải có trước khi thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại và người phạm tội.

Trong trường hợp của bạn. Khi mẹ bạn đưa thẻ ATM cho anh bạn giữ, Hải đã chủ động nói là để Hải giữ cho sẽ tốt hơn và anh bạn đã không nghi ngờ mà đồng ý. Về sau Hải cũng không làm tròn nghĩa vụ của mình là nộp tiền học phí cho e bạn , khi bạn đòi tiền nhiều lần sau nhiều sự kiện chứng minh sự giả dối của Hải thì Hải không đưa hết số tiền cho bạn mà chỉ đưa cho bạn 20 triệu đồng. Hơn nữa, theo như lời bạn, Hải rất hay nói dối. Vì vậy, có thể thấy Hải đã có động cơ chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu, trước khi anh bạn giao tài sản cho Hải.

Như vậy, từ bốn dấu hiệu pháp lý trên, ta có thể thấy hành vi của Hải có các yếu tố cấu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Và bạn có thể kiện Hải để đòi lại tài sản cho mình với Cơ quan công an nơi bạn cư trú, tuy nhiên không thể phạt tù với Hải vì số tiền mà Hải chiếm đoạt tài sản 20 triệu nhưng không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm nên không thể phạt tù đối với Hải.

4. Xác định trách nhiệm đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tóm tắt câu hỏi:

Chào Luật sư, tôi bị một người bạn thân lừa đảo một số tiền là 560 triệu đồng. Hiện giờ tôi không biết phải làm gì để thu hồi tiền lại, mong luật sư tư vấn giúp tôi. Quá trình sự việc diễn ra như sau:

_ Ngày 23/06/2019, ông Tâm và 1 người phụ nữ giả danh bà Châu (mẹ ông Tâm) đứng tên viết tay bán cho tôi căn nhà 888/67/21 (Số củ: 204/73/33) Lạc Long Quân, P.08, Q.Tân Bình, Tp.HCM với giá 950 triệu đồng nhưng ông Tâm đang thiếu nợ tôi 50 triệu đồng do đó tôi chỉ cần trả 900 triệu, nội dung thỏa thuận như sau: đặt cọt 300 triệu, 60 ngày sau bà Châu sẽ được cấp sổ hồng nhà và tiến hành chuyển nhượng cho tôi, lúc đó tôi sẽ trả thêm 200 triệu, số tiền 400 triệu còn lại sẽ cho tôi trả trong vòng 36 tháng. Quá trình ông Tâm và bà Châu (giả) nhận tiền đặt cọt bán nhà cho tôi như sau:

+ Ngày 23/06/2019, ông Tâm và bà Châu (giả) nhận tiền cọt 300 triệu đồng.

+ Ngày 29/06/2019, ông Tâm xin tôi ứng thêm 50 triệu đồng vì thiếu tiền xúc tiến làm sổ hồng (có viết ký nhận).

+ Ngày 24/09/2019, quá hạn cam kết giao nhà và sang tên 01 tháng, ông Tâm báo sổ hồng đã có do ba ông Tâm đứng tên và xin ứng thêm 160 triệu vì ba ông cần tiền mổ tim gấp (có viết ký nhận). Đến lúc này quá trình đặt cọt mua nhà là 510 triệu và 50 triệu cấn trừ nợ, như vậy tổng số tiền bà Châu (giả) và ông Tâm đã nhận đặt cọt bán nhà là 560 triệu đồng.

+ Ngày 20/10/2019, do trể hẹn so với cam kết 02 tháng, ông Tâm viết cam kết thêm sẽ giao nhà vào ngày 10/11/2019 và tiến hành sang tên ngay khi nhận được sổ hồng nhà, nếu sai cam kết sẽ đền tiền 510 triệu x 2 = 1tỷ 20 triệu (chưa tính số tiền 50 triều cấn trừ nợ).

+ Ngày 17/11/2019, tức trể hẹn 07 ngày, ông Tâm tiếp tục thương lượng và cam kết sẽ giao nhà và sang tên vào ngày 23/11/2019

+ Ngày 25/11/2019, ông Tâm xin dời ngày thực hiện cam kết đến 20/12/2019 vì chưa sắp xếp di dời đến chổ ở mới được.

+ Ngày 19/12/2019, ông Tâm lại tiếp tục xin dời ngày thực hiện cam kết đến 05/01/2022, tôi không đồng ý. Nhưng lúc này bà Châu (giả) ra mặt và tôi đồng ý.

+ Ngày 04/01/2022, ông Tâm báo Ba của ông mất và xin tôi được lo đám tang xong sẽ thực hiện cam kết, tôi đồng ý.

+ Ngày 19/01/2022, tức sau 15 ngày đám tang, tôi liên lạc với ông Tâm, ông Tâm lại xin hẹn đến mùng 5 Tết do bận cúng Tuần cho Ba. Tôi không đồng ý. Tôi đã dò hỏi hàng xóm ông Tâm và được biết ông Tâm và bà Châu (mẹ thật ông Tâm) đã bán nhà cho một người khác khoảng đầu năm 2019 và thuê lại nhà với giá 3 triệu/tháng. Đặc biệt, ba ông Tâm VẪN CÒN SỐNG. Tôi đã trực tiếp chấp vấn ông Tâm và ông Tâm đã thừa nhận tất cả những sự việc lừa đảo trên là chính xác. Ông Tâm hứa sẽ hoàn tiền cho tôi. Nhưng đến hôm nay sự việc đã trôi qua 01 tháng, ông Tâm đã lẫn tránh đi nơi khác và hoàn toàn không có hành động nào về việc sẽ trả tiền cho tôi. Mong sớm nhận được tư vấn của Luật sư. Tôi xin chân thành cám ơn?

Luật sư tư vấn:

– Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Theo thông tin bạn cung cấp, ông Tâm có hành vi chuyển nhượng cho bạn căn nhà có giá trị 950 triệu đồng thông qua hợp đồng. Tuy nhiên, trước khi hoàn thành giao dịch mua bán nhà với bạn ông Tâm đã bán căn nhà này cho một người khác. Tức cùng một tài sản, ông Tâm thực hiện hai giao dịch mua bán. Do đó, đặt ra vấn đề giao dịch dân sự giữa bạn và ông Tâm có dấu hiệu lừa dối, dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu. Đồng thời, có dấu hiệu cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thông qua giao dịch bán nhà giả tạo, ông Tâm lừa bán nhà cho bạn hòng chiếm đoạt số tiền đặt cọc 510 triệu đồng. Đối với hành vi này, ông Tâm và bà Châu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn đã có căn cứ cho rằng ông Tâm có dấu hiệu của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nêu trên. Bạn hoàn toàn có quyền cung cấp tài liệu, giấy tờ và tố cáo cơ quan công an có thẩm quyền về hành vi của ông Tâm, lừa đảo bán đất cho gia đình bạn khi không còn sở hữu tài sản này để cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra làm rõ và khởi tố vụ án hình sự nếu có đủ căn cứ cấu thành tội phạm hình sự về tội này.

5. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý thế nào?

Tóm tắt câu hỏi: 

Em làm việc tại một shop quần áo vào ngày 06/03/2022 có khách vãng lai vào xem đồ mua một chiếc áo giá trị trên 5.000.000 đồng và có chuyển khoản liên ngân hàng qua số thẻ từ VPbank sang Techcombank (có chụp lại số tài khoản và màn hình giao dịch). Nhưng khi khách đi em có xem lại thì khách để chế độ đặt lịch đến giờ là hết ngày 07/03/200 em vẫn chưa nhận được tiền liệu có phải khách đã lừa đảo và huỷ chuyển khoản cho em và em muốn lấy lại tiền bằng cách nào ạ?

Luật sư tư vấn:

Dựa theo thông tin bạn cung cấp, để giải quyết vấn đề của bạn thì cần xem xét các phương diện sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi điểm a Khoản 3 Điều 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự 2015 thì một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có đủ các yếu tố cấu thành của tội phạm này. Cụ thể:

– Về chủ thể thực hiện tội phạm: Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự về tuổi trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

– Về khách thể của tội phạm: Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

– Về mặt khách quan của tội phạm: Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt tài sản” nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể như đưa ra những thông tin sai sự thật, làm giả mạo giấy tờ, hồ sơ hoặc những thủ đoạn gian dối khác nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản này, khiến cho họ phải tự nguyện giao ra tài sản này. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội.

Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gây ra thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Khoản 1 của Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 thì tài sản chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm; còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo các tình tiết được quy định tại điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự năm 2015.

– Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội phải có lỗi cố ý trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

Xem xét trong trường hợp của bạn, ngày 06/03/2018, người khách này đến mua tại cửa hàng của bạn một chiếc áo có giá trị trên 5.000.000 đồng. Tại cửa hàng họ đã thực hiện việc chuyển khoản liên ngân hàng qua số thẻ từ VP bank sang Techcombank, và đã chụp lại số tài khoản và màn hình giao dịch. Dựa vào thông tin bạn cung cấp, bạn nhìn thấy hình ảnh của màn hình giao dịch, số tài khoản nhưng bạn không chắc chắn về việc họ đã thực hiện lệnh chuyển tiền hay chưa, giao dịch này đã thành công hay chưa. Do vậy, khi xem xét về việc họ có phải là người lừa đảo mình hay không sẽ có hai trường hợp xảy ra:

Trường hợp 1: Trường hợp màn hình giao dịch mà bạn chụp được cho thấy giao dịch chuyển tiền đã thành công.

Trường hợp này, nếu màn hình giao dịch đã cho thấy người kia đã thực hiện việc thành công lệnh chuyển tiền đến tài khoản bạn cung cấp. Trường hợp này cho thấy việc bạn đã hoàn tất việc chuyển tiền. Số tiền mà người này chuyển sẽ được gửi đến tài khoản của bạn.

Thông thường, việc gửi tiền cùng hệ thống ngân hàng là cách tiện lợi nhất với chi phí thấp, và người nhận (ở đây là bạn) sẽ nhận được tiền ngay sau khi chuyển hay sau khi vài phút. Khi người khách của bạn lập lệnh chuyển khoản cho tài khoản của bạn cùng hệ thống ngân hàng thì ngay sau khi thông báo chuyển tiền thành công thì ngay lập tức tiền sẽ tới tài khoản người nhận (là bạn), và số tiền của họ sẽ bị trừ đi số tiền tương ứng.

Nhưng đối với trường hợp gửi tiền khác ngân hàng, theo hệ thống liên ngân hàng thì thông thường việc chuyển tiền khác ngân hàng không thể xác định chính xác thời gian người nhận nhận được tiền. Bởi việc chuyển tiền khác ngân hàng thì tùy vào số lượng giao dịch cũng như thời điểm giao dịch mà việc bạn nhận được tiền có thể tới nhanh hay chậm, nhiều ngân hàng có thể sẽ tới ngay nếu có liên kết với nhau. Nếu thời điểm người khách giao dịch chuyển tiền cho bạn mà có số lượng giao dịch nhiều thì việc bạn nhận tiền sẽ muộn hơn, vì việc chuyển tiền còn phụ thuộc vào việc xử lý lệnh của ngân hàng.

Thông thường, nếu người khách kia gửi tiền liên ngân hàng trong buổi sáng thì vài tiếng sau hoặc buổi chiều sẽ tới tài khoản của người nhận. Một số trường hợp khác thì ngày hôm sau sẽ tới. Nếu không phải là ngày lễ, thứ 7, chủ nhật thì thường không quá 03 ngày sẽ đến tài khoản người nhận.

Nếu người khách kia gửi tiền cho bạn qua hệ thống liên ngân hàng trong thời gian buổi chiều thì tùy vào hệ thống, nhưng thường phải sau ngày hôm sau người nhận (là bạn) mới nhận được tiền.

Do vậy, ngày 06/03/2018 khách thực hiện lệnh chuyển tiền thành công vào tài khoản của bạn, nhưng đến 07/03/2018 mà bạn chưa nhận được tiền thì có thể do số lượng giao dịch, cũng như việc liên kết giữa các ngân hàng với nhau mà bạn có thể nhận tiền muộn hơn. Trong trường hợp này, người này không có hành vi lừa dối bạn, cũng không có ý định chiếm đoạt tài sản của bạn nên không đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự với người này theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự 2015.

Trường hợp 2: Trường hợp màn hình giao dịch mà bạn chụp được chỉ thể hiện số tài khoản, màn hình giao dịch đang ở chế độ thực hiện lệnh chuyển tiền, mà chưa cho thấy giao dịch đã thành công.

Trong trường hợp này sẽ có hai khả năng xảy ra là người này sẽ thực hiện lệnh chuyển tiền hoặc người này không thực hiện lệnh chuyển tiền.

Nếu người này không hề có ý định chuyển tiền cho bạn để lấy chiếc áo này, nhưng vẫn tạo lập lệnh chuyển khoản, và để cho bạn thấy màn hình giao dịch, cũng như số tài khoản, dẫn đến việc bạn tin tưởng giao cho họ chiếc áo trị giá 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi để bạn xác nhận thì người này đã không nhấn nút chuyển tiền, chuyển khoản để xác nhận việc thực hiện giao dịch, nên bạn đã không nhận được tiền dù nhiều ngày trôi qua. Có thể thấy trong trường hợp này, người này đã đưa ra thông tin gian dối, giả vờ tạo lập lệnh chuyển tiền để khiến bạn tin tưởng mà giao áo, nhằm chiếm đoạt tài sản này của bạn thì căn cứ theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015, người khách này đang có đầy đủ yếu tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp này, người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi điểm a Khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2015 với khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xac-dinh-trach-nhiem-doi-voi-hanh-vi-lua-dao-chiem-doat-tai-san

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài:19006568

Trong trường hợp này, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn cần thực hiện việc tố cáo hành vi của người này lên cơ quan công an. Để đảm bảo yêu cầu của mình là hợp pháp, bạn cần cung cấp những thông tin mà bạn biết về người khách này, như bản ghi hình qua thiết bị camera, hay việc miêu tả về dáng người, quần áo, khuôn mặt, những thông tin khác của người này mà bạn biết.

Nếu người này, khi cho bạn xem là màn hình giao dịch, chưa thực hiện lệnh chuyển tiền nhưng sau đó bạn vẫn nhận được tiền thì trong trường hợp này người này được xác định là không có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn.

Do không thể xác định được người này có thực sự nhấn nút chuyển tiền để xác nhận lệnh hay không nên căn cứ vào thời gian xác định việc gửi tiền liên ngân hàng thì bạn nên liên lạc đến cơ quan công an nếu sau 3 – 4 ngày mà bạn chưa nhận được tiền. Tuy nhiên bạn cần cung cấp các chứng cứ khác để chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp.

Như vậy, để giải quyết vấn đề này, bạn cần căn cứ vào tình hình cụ thể để có sự xác định cụ thể và chủ động trong việc tìm kiếm thông tin của người khách này để đảm bảo quyền lợi của mình.

 

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!