Tổng hợp

Thế nào là hành vi trốn thuế? Mức phạt với hành vi trốn thuế?

Hành vi trốn thuế (the act of tax evasion) là gì? Hành vi trốn thuế tên tiếng Anh là gì? Mức phạt với hành vi trốn thuế?

Bạn đang xem: Thế nào là hành vi trốn thuế? Mức phạt với hành vi trốn thuế?

Mặc dù, việc nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện cần thiết, tuy nhiên trên thực tế, có nhiều cá nhân tổ chức vi phạm nghĩa vụ nộp thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, làm thất thu đáng kể nguồn ngân sách Nhà nước. Trong đó, trốn thuế là một trong các hình thức vi phạm nghĩa vụ nộp thuế. Vậy hành vi trốn thuế được hiểu như thế nào và pháp luật quy định thế nào về mức phạt đối với hành vi trốn thuế? Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, bài viết dưới đây của AZ Solutions sẽ cung cấp cho bạn đọc nội dung liên quan đến: ” Thế nào là hành vi trốn thuế? Mức phạt với hành vi trốn thuế”

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài trực tuyến 24/7:

1. Hành vi trốn thuế là gì?

–  Trốn thuế là không nộp thuế cho nhà nước theo quy định của pháp luật,  tùy vào tính chất và mức độ vi phạm mà người thực hiện hành vi trốn thuế có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Hành vi trốn thuế chỉ trở thành tội phạm trốn thuế khi hành vi trốn thuế gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước và xã hội thông qua việc vi phạm các quy định, các chính sách về thu, nộp thuế. Đồng thời, hành vi trốn thuế đó phải thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu pháp lý được quy định trong BLHS, đó là: hành vi đó phải gây nguy hiểm cho xã hội; do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý. Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, quy định, theo đó tội trốn thuế là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng việc trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật cho Nhà nước, do người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi luật định hoặc pháp nhân thương mại thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.

2. Hành vi trốn thuế tên tiếng Anh là gì?

– Trốn thuế (tiếng Anh: Tax Evasion

– Hành vi trốn thuế tên tiếng Anh là: “ the act of tax evasion”

3. Mức phạt đối với hành vi trốn thuế:

– Hành vi phạm tội trốn thuế phải thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Điều 200 của BLHS năm 2015.

– Theo quy định tại Điều 2 BLHS hiện hành, chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS. Đây là sự thừa nhận nguyên tắc “không ai bị kết tội vì một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm” được ghi nhận tại khoản 2 Điều 11 tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc.

– Như vậy, để khẳng định một chủ thể phạm tội trốn thuế, phải chứng minh được hành vi của chủ thể đó có tính trái pháp luật, phạm vào quy định về tội trốn thuế tại Điều 200 BLHS năm 2015, hay nói cách khác là hành vi phạm tội trốn thuế phải thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành của tội trốn thuế, đó là thỏa mãn các yếu tố về khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội trốn trốn thuế dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội này. Cụ thể, các trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế và khung hình phạt áp dụng với họ được quy định tại khoản 5 Điều 200 BLHS năm 2015, như sau:

– Hình phạt áp dụng với pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 200 BLHS 2015:  Đây là trường hợp quy định về cấu thành cơ bản đối với tội trốn thuế do pháp nhân thương mại thực hiện. Cụ thể, pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế theo quy định tại điểm a khoản 5 điều 200 BLHS, khi thỏa mãn hai điều kiện sau:

+ Điều kiện thứ nhất: Pháp nhân thương mại, thực hiện một trong các hành vi trốn thuế sau:

– Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;

– Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

– Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán:

– Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

– Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

– Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

– Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

– Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật hình sự 2015. 

– Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

–  Điều kiện thứ hai: Pháp nhân thương mại thực hiện một trong các hành vi trên trốn thuế với số tiền thuộc một trong những trường hợp sau:

+ Trốn thuế với trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

+ Trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật hình sự năm 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Theo quy định tại điểm a khoản 5 điều 200 BLHS năm 2015, trường hợp pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội trốn thuế đã nêu trên thì bị áp dụng hình phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.

– Hình phạt áp dụng với pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 200 BLHS.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 200 BLHS, pháp nhân thương mại phạm tội sẽ bị áp dụng hình phạt tiền bằng cách tước đi một khoản tiền của pháp nhân thương mại từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng; nếu pháp nhân thương mại thực hiện một trong những hành vi trốn thuế đã được mô tả trong mặt hành vi khách quan của tội trốn thuế và hành vi phạm tội trốn thuế của pháp nhân thương mại có thêm một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau:

– Phạm tội có tổ chức, đây là trường hợp hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại có sự câu kết chặt chẽ với pháp nhân hoặc người khác để cùng thực hiện tội phạm trốn thuế.

– Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; trường hợp phạm tội này chỉ cần xác minh, làm rõ số tiền trốn thuế như đối với cá nhân phạm tội, đã trình bày ở các phần trước, là có thể truy cứu trách nhiệm về khung hình phạt này.

– Phạm tội 02 lần trở lên, là trường hợp trước đó pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi trốn thuế ít nhất một lần, và hành vi trốn thuế ở cả hai lần đều thỏa

mãn đầy đủ dấu hiệu trong cấu thành tội phạm của tội trốn thuế, đồng thời các lần phạm tội của pháp nhân thương mại đều chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại khoản 2 Điều 9 và quy định tại điều 53 BLHS năm 2015, hướng dẫn việc phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra hoặc trường hợp pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm trốn thuế. 

– Ngoài các hình phạt chính được áp dụng đối với pháp nhân thương mại tương ứng với mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi trốn thuế do pháp nhân thương mại thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 5 điều 200 BLHS pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung sau:

– Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà pháp nhân thương mại thực hiện, hình phạt bổ sung này có thể được Tòa án quyết định áp dụng nếu không áp dụng là hình phạt chính khi kết án pháp nhân thương mại phạm tội.

– Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định. Hình phạt bổ sung này được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội. Tùy vào từng trường hợp phạm tội cụ thể mà Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể mà pháp nhân thương mại phạm tội bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.

– Cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà Tòa án có thể quyết định áp dụng hình phạt bổ sung này đối với pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư; Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; Cấm huy động vốn khách hàng; Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

– Thực hiện và việc xác định tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm. Tội trốn thuế là tội có mức khung hình phạt cao nhất đối với người phạm tội là 07 năm tù nên thuộc loại tội nghiêm trọng, do đó, có thể thấy trường hợp pháp nhân thương mại tái phạm nguy hiểm chỉ có thể là trường hợp trước khi thực hiện hành vi phạm tội trốn thuế, pháp nhân thương mại đã tái phạm.

– Nghĩa là trường hợp trước đó pháp nhân thương mại đã bị kết án hai lần về tội phạm mà pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự do cố ý, mà lần phạm tội thứ nhất chưa hết thời hạn xóa án tích đã thực hiện hành vi phạm tội lần thứ hai với lỗi cố ý, và lần phạm tội thứ hai cũng đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội trốn thuế.

– Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 200 BLHS 2015.  Đây là trường hợp pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội trốn thuế trốn thuế với số tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng. Việc xác định số tiền trốn thuế của pháp nhân thương mại trong trường hợp này cũng tương tự như việc xác định số tiền trốn thuế mà cá nhân thực hiện đã trình bày ở các nội dung trên.

– Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 200 BLHS, pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp này có thể bị áp dụng một trong hai loại hình phạt sau:

– Phạt tiền từ thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng. Đây là hình phạt tước đi của pháp nhân thương mại một khoản tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

– Đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đây hình phạt tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, mỗi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

– Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế theo quy định tại điểm d khoản Điều 200 BLHS

– Pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế bị áp dụng hình phạt chính là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, đây là hình phạt chấm dứt sự hoạt động của pháp nhân thương mại trong lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế, nếu việc hành vi phạm tội trốn thuế có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!