Tổng hợp

Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp là gì? Sự phối hợp giữa 3 cơ quan?

Lập pháp là gì? Hành pháp là gì? Tư pháp là gì? Quy định về tam quyền phân lập ở Việt Nam? Sự phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp tại Việt Nam?

Bạn đang xem: Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp là gì? Sự phối hợp giữa 3 cơ quan?

Nước ta đã ban hành và nhiều lần thay đổi các Hiến pháp như Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Hiến pháp năm 2013. Qua những bản Hiến pháp thay đổi cùng với thực tiễn cho thấy để thực hiện vai trò của nhà nước và kiểm soát được việc thực hiện quyền lực của nhà nước ta thì việc phân định rõ ba quyền quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã giúp nhà nước tối ưu hóa được điều này.

Trên thế giới cũng tổ chức các thiết chế nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập nước ta cũng đã dựa trên các tinh hoa của các thiết chế nhà nước trên thế giới để có được sự phối hợp phân công nhịp nhàng giữa các cơ quan hành pháp lập pháp và tư pháp nhằm mục đích kiểm soát, tổ chức và phát huy được vai trò cũng như chức năng và quyền lực của nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn về quyền lực nhà nước và sự phối hợp giữa cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp ở Việt Nam bài viết sau đây sẽ phân tích chi tiết về vấn đề này.

lap-phap-hanh-phap-tu-phap-la-gi-su-phoi-hop-giua-co-quan-hanh-phap-lap-phap-tu-phap

Luật sư tư vấn các quy định của pháp luật về hành chính nhà nước:

1. Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp là gì?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp quy định về quyền lực nhà nước như sau:

‘3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”

1.1. Lập pháp là gì?

Lập pháp là được hiểu theo quy định trên và trong Hiến pháp 2013 chính là một trong ba chức năng chính của nhà nước, song hành cùng các quyền như quyền hành pháp và quyền tư pháp để tổng hợp thành quyền lực của nhà nước. Chúng ta có thể hiểu và thấy mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước với lập pháp chính là vừa làm Hiến pháp và vừa sửa đổi Hiến pháp, vừa làm luật và vừa sửa đổi luật. Cũng theo căn cứ Hiến pháp năm 2013 thì Quốc hội chính là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước. Chính vì vậy, lập pháp được hiểu quyền thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội. 

1.2. Hành pháp là gì?

Hành pháp là cùng một trong ba chức năng chính của nhà nước, là quyền lập pháp và quyền tư pháp hợp thành tạo nên quyền lực nhà nước. Hành pháp chính là thi hành theo quy định tại hiến pháp, căn cứ theo hiến pháp để soạn thảo hoặc ban bố các quy định của luật và thực hiện theo quy định của luật. Đại diện cho hành pháp là Chính phủ, người đứng đầu là Tổng thống/Chủ tịch nước. Chính vì vậy, hành pháp được hiểu là việc thực hiện luật pháp đã được thiết lập thông qua cơ quan Chính phủ. 

1.3. Tư pháp là gì?

Tư pháp là để đảm bảo sự công tư công bằng của pháp luật, để nhằm mục đích bảo vệ nền công lý. Để đảm bảo thực hiện tư pháp thì theo quy định sẽ có các cơ quan tư pháp. Tư pháp cũng chính là một trong ba chức năng chính của nhà nước. Tư pháp là để mục đích trừng trị tội phạm và giải quyết xung đột giữa các cá nhân. Cơ quan tư pháp chính là hệ thống tòa án để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp.

2. Quy định về tam quyền phân lập ở Việt Nam:

Quy định tam quyền phân lập tại Việt Nam thể hiện về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước chứ không tập trung cho một cơ quan nào cụ thể mà sẽ phân ra cho các cơ quan khác nhau: quyền lập pháp giao cho quốc hội, quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho tòa án. Tam quyền phân lập được hiểu là nhằm mục đích dùng quyền lực để thực hiện kiểm soát, cân bằng, khống chế và kiềm chế quyền lực giữa các cơ quan nhà nước. Quy định tam quyền phân lập được thể hiện cho ta thấy rõ và nó giúp  ngăn ngừa được sự chuyên chế rất dễ phát sinh ở xã hội lạm quyền. Như vậy, có thể hiểu các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp phải hoạt động theo nguyên tắc độc lập, có điều kiện kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cân bằng giữa các quyền để đảm bảo được quyền lực nhà nước.

Theo quy định về mặt hình thức thì tại Việt Nam chính là đất nước có hệ thống tam quyền phân lập, gồm có Quốc hội, có Chính phủ, có Tòa án và cơ quan công tố. Hệ thống quyền lực theo quy định của pháp luật có cơ cấu tổ chức hoàn thiện từ Trung ương đến các địa phương cấp huyện, quận cho tới cấp xã, phường.

3. Sự phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp tại Việt Nam:

Hiến pháp Việt Nam đã qua 5 lần thay đổi từ Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 sửa đổi bổ sung 2001, 2013 hiện hành  thì trong đó ta thấy rõ về mối quan hệ trong việc phân quyền theo chiều ngang đã ngày càng được hoàn thiện và đi đến sự thống nhất từ cơ chế theo tập quyền sang cơ chế phân công, đến phối hợp rồi tiếp theo là phân quyền, phân công, phối hợp và thực hiện kiểm soát quyền lực.

Theo quy định tại Điều 2 Hiến pháp đã khẳng định cụ thể về nguyên tắc phân công thực hiện quyền lực nhà nước. Trong đó cũng quy định và ghi nhận chủ thể của mỗi nhánh quyền là nội dung cốt lõi của đạo luật cơ bản. Với chức năng chính được ghi nhận thể hiện là quyền lực nhà nước, thì Hiến pháp chính là văn bản chính thức nhân danh Nhân dân thể hiện chức năng của Nhà nước trong phạm vi nhất định cho các thiết chế và được thể hiện trong nhiều trường hợp bằng quy định cụ thể bằng cách trao quyền.

Với quy định như vậy thì theo mô hình phân quyền theo cách thức cứng rắn hoặc cách thức mềm dẻo và phân quyền, Hiến pháp hình thành nên một mối quan hệ nhằm mục đích tương tác cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực lẫn nhau để qua đó làm rõ xác định mối quan hệ giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp chủ yếu. Để phân công quyền lực, cần xác định vị trí, chức năng, phạm vi, giới hạn hoạt động, cách thức phối hợp, tương tác giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vốn đặc trưng cho chức năng cơ bản của Nhà nước.

TƯ VẤN TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:

Tóm tắt câu hỏi:

Luật sư cho cháu hỏi:

– Thủ tục hành pháp, lập pháp, tư pháp nghĩa là như thế nào ạ. Và thủ tục đó được quy định ở đâu ạ?

– Vi phạm hành chính nhỏ là như thế nào ạ? Lấy ví dụ giúp cháu ạ Cháu cảm ơn ạ!!!?

Luật sư tư vấn:

Lập pháp, hành pháp, tư pháp là ba khái niệm xuât hiện trong tư tưởng của J.Locke. J.Loke cho rằng quyền lực của một nhà nước gồm có : quyền lập pháp, quyền tư pháp, quyền hành pháp. J. Locke cho rằng ba thức quyền lực trên phải độc lập với nhau nhằm chế ước và kiểm soát lẫn nhau. Sau đây, việc phân tích thủ tục hành pháp, thủ tục lập pháp và thủ tục tư pháp chỉ dừng trong phạm vi hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành.

Theo khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013:

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. 

Quyền lực nhà nước ở Việt Nam được phân công cho các cơ quan trong hệ thống nhà nước. Trong đó, quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp hiến, quyền lập pháp. Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp.

Lập pháp là hoạt động ban hành pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp. Thủ tục lập pháp được quy định trong luật pháp luật, ví dụ: Hiến pháp năm 2013, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Hành pháp là hoạt động thực thi pháp luật. Thủ tục hành pháp được thể hiện thông qua hoạt động của Chính phủ và hoạt động của bộ máy hành chính. Ví dụ: Luật tổ chức chính phủ năm 2015, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012,….

Tư pháp là hoạt động xét xử dựa trên pháp luật được ban hành bởi cơ quan lập pháp. Thủ tục lập tư pháp thể hiện qua hoạt động của hệ thống các cơ quan Tư pháp. Tại Việt Nam, hệ thống cơ quan tư pháp bao gồm Hệ thống Tòa án nhân dân Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam. Thủ tục hành pháp được quy định trong luật, ví dụ: Luật tổ chức Tòa án năm 2015, Luật Tố tụng hình sự năm 2015…

 Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

 Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ nhất, Vi phạm hành chính là loại vi phạm xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại đến các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Các quan hệ này được nhà nước tác động, điều chỉnh bằng pháp luật. Mặc dù có nội dung đa dạng nhưng các quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước được xắp xếp, phân loại thành những nhóm nhất định do các quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh, tạo nên trật tự quản lý nhà nước, được biểu hiện thành các quy tắc quản lý nhà nước.

Tính xâm hại các quy tắc quản lý nhà nước của hành vi vi phạm hành chính là khả năng làm tổn hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ. Là sự phá vỡ, đảo lộn các trật tự quản lý nhà nước. Mặc dù mức độ nguy hiểm ít hơn so với tội phạm nhưng lại xảy ra thường xuyên, mọi lúc mọi nơi tạo nên một trở lực to lớn cho việc duy trì, củng cố trật tự kỉ cương nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội.

Thứ hai, vi phạm hành chính thể hiện ở chỗ, những hành vi do chủ thể thực hiện trái với các quy định của pháp luật hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Một người hoặc một tổ chức khi thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính ngăn cấm, không thực hiện những hành vi mà pháp luật yêu cầu, hoặc thực hiện những hành vi vượt quá giới hạn pháp luật hành chính cho phép đều là những hành vi vi phạm hành chính. Ngược lại những hành vi trái pháp luật nhưng không được ngành luật hành chính quy định và bảo vệ.

Thu-tuc-hanh-phap-lap-phap-tu-phap-nhu-the-nao.

Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua tổng đài: 

Thứ ba, Lỗi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc để xác định hành vi vi phạm hành chính. Sẽ không có đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với đối tượng vi phạm pháp luật khi đối tượng thực hiện hành vi vi phạm không có lỗi. Lỗi là dấu hiệu cơ bản trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính. Lỗi thể hiện thái độ của chủ thể vi phạm đối với hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi của mình.

Hành vi được thực hiện phải là kết quả của sự tự lựa chọn, tự quyết định của chủ thể trong khi có đầy đủ điều kiện để lựa chọn, quyết định cách xử sự phù hợp với yêu cầu của trật tự quản lý nhà nước. Lỗi là trạng thái tâm lý, thể hiện sự nhận thức, do vậy nếu không thể nhận thức được tính xâm hại cho xã hội của hành vi thì coi như không có lỗi và không có vi phạm hành chính.

VD: Ông A điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo luật định. Ông hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là trái với quy định của Luật giao thông đường bộ. Vì vậy ông hoàn toàn có lỗi đối với hành vi của mình, nên hành vi của ông A là vi phạm hành chính.

Thứ tư, là dấu hiệu vừa có tính quy kết kèm theo tính xâm hại và tính trái pháp luật vừa được xem như thuộc tính của vi phạm hành chính. Tính quy kết thể hiện ở chỗ, có vi phạm hành chính thì phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật. Còn nói đây là thuộc tính của vi phạm hành chính vì hành vi vi phạm phải bị xử phạt mới được coi là vi phạm hành chính. Thiếu thuộc tính này thì chưa đủ yếu tố để coi là vi phạm hành chính. Trong vi phạm hành chính, tính bị xử phạt hành chính phải được biểu hiện ở nguy cơ của chủ thể vi phạm phải gánh chịu hình thức xử phạt hành chính tương ứng.

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!