Tổng hợp

Dịch vụ trung tâm môi giới hôn nhân có bị pháp luật cấm không?

Dịch vụ trung tâm môi giới hôn nhân có bị pháp luật cấm không? Các hoạt động môi giới hôn nhân được pháp luật Việt Nam cho phép thực hiện? Quy định về mức xử phạt đối với hành vi môi giới hôn nhân trái pháp luật?

Bạn đang xem: Dịch vụ trung tâm môi giới hôn nhân có bị pháp luật cấm không?

Trung tâm môi giới hôn nhân trong giai đoạn hiện nay được biết đến là dịch vụ khá phổ biến. Với nhu cầu kết hôn với người nước ngoài ngày càng nhiều thì các trung tâm môi giới hôn nhân lại càng trở nên quan trọng. Tuy pháp luật nước ta cũng đã ban hành các những quy chế riêng để nhằm mục đích có thể hạn chế các tác động tiêu cực của hình thức môi giới này nhưng trên thực tế vẫn có những đơn vị cố ý thực hiện trái pháp luật. Bài viết dưới đây chúng ta sẽ cùng nhau trả lời cho câu hỏi dịch vụ trung tâm môi giới hôn nhân có bị pháp luật cấm không và các vấn đề liên quan?

Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại: 

Căn cứ pháp lý:

– Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

– Luật hôn nhân và gia đình 2019.

– Nghị định 82/2020/NĐ-CP.

1. Dịch vụ trung tâm môi giới hôn nhân có bị pháp luật cấm không?

Các trung tâm môi giới hôn nhân gần đây trở nên khá phổ biến tại Việt Nam. Các trung tâm môi giới hôn nhân là hình thức dịch vụ được phép hoạt động tại Việt Nam nhưng trung tâm môi giới hôn nhân cũng sẽ cần phải tuân theo quy định và giám sát chặt chẽ của pháp luật Việt Nam.

Ta nhận thấy rằng, hiện nay, dịch vụ môi giới hôn nhân tại Việt Nam không bị cấm mà nó bị hạn chế phạm vi hoạt động để nhằm mục đích có thể bảo đảm việc quản lý của nhà nước.

Môi giới hôn nhân được hiểu cơ bản chính là hành vi một chủ thể thực hiện việc giới thiệu và tư vấn hôn nhân cho một người khác, trong đó, những trung tâm môi giới hôn nhân hiện nay sẽ bao gồm: Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam hoặc Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo Điều 52 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định với nội dung cụ thể như sau:

“Điều 52. Nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1. Hoạt động của Trung tâm phải bảo đảm nguyên tắc phi lợi nhuận, góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, thuần phong mỹ tục của dân tộc.

2. Các bên kết hôn có quyền được tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Việc tư vấn, hỗ trợ không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú của người có yêu cầu.

3. Nghiêm cấm lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác.”

Như vậy, ta nhận thấy, căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, để được hoạt động về dịch vụ môi giới hôn nhân này thì các trung tâm cung cấp dịch vụ môi giới hôn nhân sẽ cần phải đảm bảo hoạt động tuân thủ các nguyên tắc đã được quy định cụ thể. Nếu như trong trường hợp xảy ra tình trạng lợi dụng việc môi giới để nhằm mục đích trục lợi hay với mục đích khác thì các cá nhân, tổ chức sẽ bị coi là vi phạm luật hôn nhân gia đình nói riêng và luật pháp Việt Nam nói chung và sẽ bị xử lý nghiêm trọng.

2. Các hoạt động môi giới hôn nhân được pháp luật Việt Nam cho phép thực hiện:

Nhằm mục đích để có thể hỗ trợ tốt nhất cho các chủ thể là những khách hàng có nhu cầu được tư vấn về việc kết hôn, các trung tâm môi giới hôn nhân được lập ra và theo quy định của pháp luật hiện hành thì các trung tâm này sẽ được phép hỗ trợ tốt nhất các dịch vụ cần thiết theo nhu cầu của từng khách hàng. Hiện nay, các văn phòng tư vấn thường cung cấp các loại hình dịch vụ như:

– Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được tư vấn những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài cho công dân Việt Nam theo hướng dẫn của Hội Liên hiệp Phụ nữ.

– Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được tư vấn, bồi dưỡng cho công dân Việt Nam về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, pháp luật về hôn nhân và gia đình, về nhập cư của nước mà người yêu cầu dự định kết hôn với công dân nước đó.

– Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được tư vấn, giúp đỡ người nước ngoài tìm hiểu về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam.

– Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được giúp đỡ các bên kết hôn tìm hiểu về hoàn cảnh cá nhân, gia đình của mỗi bên và các vấn đề khác liên quan mà các bên yêu cầu.

– Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được cấp giấy xác nhận cho công dân Việt Nam sau khi đã được tư vấn, bồi dưỡng theo quy định pháp luật.

– Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được giúp đỡ các bên kết hôn hoàn tất hồ sơ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nếu có yêu cầu.

– Trong trường hợp công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài có nhu cầu giới thiệu người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam để kết hôn thì Trung tâm thực hiện giới thiệu.

– Hoạt động hợp tác với tổ chức tư vấn, hỗ trợ hôn nhân của nước ngoài được thành lập theo quy định của pháp luật nước đó để nhằm mục đích giải quyết những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

Trung tâm môi giới hôn nhân có quyền được nhận thù lao để nhằm mục đích có thể thực hiện việc trang trải chi phí hoạt động và được thanh toán chi phí thực tế hợp lý khác theo quy định của pháp luật, bảo đảm nguyên tắc phi lợi nhuận; Các trung tâm môi giới hôn nhân cũng được thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Bên cạnh đó thì pháp luật cũng quy định các trung tâm môi giới hôn nhân sẽ có các nghĩa vụ sau đây: Thực hiện hoạt động theo đúng nội dung ghi trong giấy đăng ký hoạt động của mình cũng như phải có trách nhiệm tư vấn, hỗ trợ cho mọi đối tượng có yêu cầu, không phụ thuộc vào quốc tịch, nơi cư trú của người có yêu cầu; cấp giấy xác nhận của Trung tâm sau khi thực hiện tư vấn, hỗ trợ cho người có yêu cầu. Bên cạnh đó thì trung tâm môi giới hôn nhân sẽ cần phải giữ bí mật các thông tin, tư liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của các bên theo quy định của pháp luật hiện hành.

3. Quy định về mức xử phạt đối với hành vi môi giới hôn nhân trái pháp luật:

Theo khoản 4, 5, 6 Điều 39 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định nội cung cụ thể như sau:

“Điều 39. Hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động của trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

4. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau

c) Đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác ngoài thù lao theo quy định khi thực hiện tư vấn, hỗ trợ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;

d) Không giữ bí mật các thông tin, tư liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của các bên theo quy định của pháp luật.

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thực hiện các hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi chưa có giấy đăng ký hoạt động;

b) Lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này;

b) Đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều này;

c) Tịch thu tang vật là giấy tờ, văn bản bị tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này; giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này;

b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 4, khoản 5 Điều này.”

Theo quy định được nêu cụ thể bên trên, ta nhận thấy rằng, đối với hoạt động môi giới trái pháp luật sẽ có thể bị phạt tiền từ 7 triệu đến 20 triệu đồng, tùy vào từng hành vi và mức độ vi phạm. Ngoài việc phạt tiền thì chủ thể là người vi phạm sẽ còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung và thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

Hoạt động môi giới kết hôn theo quy định sẽ cần phải có trách nhiệm cần phải tuân thủ nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận. Các hoạt động dịch vụ môi giới kết hôn hoặc lợi dụng việc hỗ trợ kết hôn nhằm mục đích để thực hiện các hành vi mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc hoạt động dịch vụ môi giới kết hôn bởi vì mục đích trục lợi khác tuỳ theo mực độ và tình chất thì đều sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!