Tổng hợp

Di chúc hợp pháp là gì? Di chúc thế nào được coi là hợp pháp?

Di chúc hợp pháp là gì? Di chúc thế nào được coi là hợp pháp? Quy định về các điều kiện có hiệu lực pháp luật của một di chúc thừa kế?

Bạn đang xem: Di chúc hợp pháp là gì? Di chúc thế nào được coi là hợp pháp?

Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cáo quy định về cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản, do đó, đối với những tài sản thuộc về quyền sở hữu của cá nhân thì chủ thể đó có quyền định đoạt, quyền chiếm hữu và quyền sử dụng. Theo đó việc, việc cá nhân lập di chúc và định đoạt về tài sản của mình cũng được pháp luật Dân sự này quy định rất cụ thể. Quyền mà cá nhân lập di chúc được xem là quyền của cá nhân khi đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thể có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản theo ý chí của mình.

Tuy nhiên để cá nhân lập được một bản di chúc thì phải đáp ứng những điều kiện gì? Và bản di chúc như thế nào thì được xác định là di chúc hợp pháp thì chắc hẳn không phải ai cũng nắm rõ và hiểu hết về vấn đề này.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài:

Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật Dân sự năm 2015.

1. Di chúc hợp pháp là gì?

Trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khái niệm di chúc được quy định là: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Do đó, khi người để lại di sản chết mà di chúc được sử dụng để phân chia di sản thừa kế của người đó thì di chúc cần đảm bảo giá trị pháp lý.

Như vậy, từ khái niệm di chúc được nêu ở trên thì có thể hiểu khái niệm di chúc hợp pháp là di chúc thể hiện ý chí của cá nhân về việc chuyển tài sản của mình cho người khác, được pháp luật công nhận và thực hiện chia di sản thừa kế theo ý nguyện của người đó sau khi chết. Bên cạnh đó, khi công bố di chúc, thì nội dung của di chúc có thể có giá trị pháp lý hoàn toàn hoặc chỉ có hiệu lực một phần. Trong trường hợp này sẽ chia di sản theo phần nội dung hợp pháp. Những tài sản còn lại được chia thừa kế theo pháp luật.

Từ khái niệm trên, có thể đưa ra các đặc điểm của di chúc trong Bộ luật Dân sự như sau:

Thứ nhất, Di chúc được biết đến và thành lập dựa trên ý chí đơn phương của cá nhân nên nó được hình thành duy nhất bằng ý chí đơn phương của người để lại thừa kế. Theo đó, người lập di chúc hoàn toàn bằng ý chí của mình quyết định lập di chúc nhằm chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản hay không, không có sự thoả thuận, cưỡng ép, hay đe dọa từ chủ thể khác.

Thứ hai, Di chúc trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự được xác định là nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc. Quy định này là nội dung quan trọng không thể thiếu được của di chúc nếu muốn được coi là căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác. Mặt khác, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có tài sản và muốn bằng ý chí của mình để định đoạt tài sản đó cho ai.

Thứ ba, Di chúc được thể hiện dưới hình thức xác định để có thể nhận biết được ý chí của người lập di chúc. Dựa trên quy định của Bộ luật này thì di chúc có thể được thành lập bằng hai hình thức đó là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản nhưng cho dù cá nhân xác định thành lập di chúc theo hình thức nào thì cũng đều phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật để đảm bảo di chúc có hiệu lực pháp luật.

Thứ tư, Di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ bởi người lập di chúc. Trường hợp mà cá nhân thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế khi cá nhân lập di chúc thấy rằng nội dung di chúc đã lập không còn phù hợp, tài sản của người để lại di chúc có thay đổi,… Theo như quy định của pháp luật hiện hành thì người lập di chúc tự mình thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc mới. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc của cá nhân lập di chúc phải thực hiện theo quy định của pháp luật để đảm bảo hiệu lực của di chúc.

Thứ năm, Di chúc chỉ có hiệu lực khi người để lập di chúc đã chết. Dựa theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chế. Như vậy, dù cho di chúc có đáp ứng đầy đủ các điều kiện về di chúc hợp pháp thì nó vẫn chưa có hiệu lực khi người lập di chúc còn sống, khi đó những người được hưởng thừa kế theo di chúc cũng không có quyền yêu cầu công nhận di chúc và thực hiện các quyền thừa kế theo nội dung di chúc.

2. Di chúc thế nào được coi là hợp pháp?

Trên cơ sở quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc cá nhân lập di chúc thì phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật thì bản di chúc đó mới được coi là hợp pháp. Vậy bản di chúc như thế nào thì được xác định là hợp pháp, trong mục 2 này, Luật dương Gia sẽ gửi tới bạn đọc các nội dung để đảm bảo hiệu lực pháp luật khi mở thừa kế, di chúc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về độ tuổi, sức khỏe, nội dung và hình thức, cụ thể như sau:

Thứ nhất, di chúc phải đáp ứng đầy đủ các quy định về độ tuổi và sức khỏe

Dưới góc độ pháp lý thì người lập di chúc cần đảm bảo điều kiện về độ tuổi và sức khỏe khi thực hiện việc lập di chúc. Do đó, điều kiện về độ tuổi và sức khỏe được xác định là những yếu tố cơ bản nhưng hết sức quan trọng nhằm xác định giá trị pháp lý của di chúc khi lập nên. Chính vì vậy, mà quy định của pháp luật thì một người được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi người đó đã thành niên tức là đủ 18 tuổi trở lên trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

Tuy nhiên, đối với những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, dù chưa thành niên nhưng độ tuổi này đã có những nhận thức nhất định, nếu họ đã có tài sản riêng thì phải thừa nhận quyền định đoạt đối với tài sản của họ. Vì vậy, pháp luật đã cho phép người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc để đảm bảo quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài, tuy nhiên phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc do những người ở độ tuổi này nhận thức chưa hoàn hảo, chưa chủ động kiểm soát được sự định đoạt trong di chúc của họ.

Bên cạnh yếu tố về tuổi, yếu tố nhận thức là một điều kiện không thể thiếu trong xác định năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc theo như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc” nên di chúc sẽ không được coi là hợp pháp khi rơi vào các trường hợp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, Toà án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Thứ hai,  di chúc phải đáp ứng đầy đủ các quy định về hình thức

Pháp luật Dân sự hiện hành có quy định rằng ngoài việc lập di chúc bằng văn bản pháp luật cũng chấp nhận di chúc bằng miệng. Tuy nhiên mỗi loại đều phải tuân thủ những hình thức của một di chúc. Do đó, đối với di chúc bằng miệng thì được áp dụng trong trường hợp đặc biệt chỉ được lập trong tình trạng nguy kịch có thể ảnh hưởng đến tính mạng (nhưng đòi hỏi phải minh mẫn và hoàn toàn tự nguyện). Hoặc những trường hợp bệnh tật mà không thể lập di chúc bằng văn bản được. Bên cạnh đó thì trong khi thực hiện di chúc miệng thì phải có người làm chứng và sau đó phải viết lại bằng tay và những người làm chứng đó phải ký hoặc điểm chỉ trên trên di chúc. Kể sau đó 05 ngày thì bản di chúc đó phải được đi công chứng và xác thực thì di chúc miệng đó mới có hiệu lực.

 Đối với di chúc văn bản chỉ được xem là hợp pháp khi người lập di chúc phải tự viết và ký vào di chúc hoặc trong trường hợp người lập di chúc không thể tự viết thì có thể nhờ người khác viết và phải có người làm chứng thì người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ trên bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Những người làm chứng phải xác nhận chữ ký, điểm chỉ trên bản di chúc đó và cùng ký trên di chúc. Không những thế mà đối với di chúc được lập thành văn bản thì phải có công chúng, chứng thực theo như quy định của pháp luật hiện hành

Thứ ba,  di chúc phải đáp ứng đầy đủ các quy định về nội dung

Do đó, để một bản di chúc được xem là hợp pháp chỉ khi di chúc đó phải đáp ứng đầy đủ các quy định về nội dung như:

– Ngày, tháng, năm lập di chúc.

– Họ tên, địa chỉ, của người lập di chúc.

– Các thông tin của người nhận di chúc như họ tên, địa chỉ,…

– Xác định rõ điều kiện để được nhận thừa kế

– Thể hiện rõ di sản để lại là những gì, nơi có di sản đó.

– Nội dung phải chỉ rõ ra quyền và nghĩa vụ của đối tượng nhận di chúc.

– Trong di chúc thì không được viết tắt, ký hiệu, các trang của phải được đánh số theo thứ tự. Và phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Tuy nhiên, cũng như đã nói ở phần trên thì đối với di chúc được lập thành văn bản mà nếu người lập di chúc không thể tự mình viết được được thì có thể nhờ người khác viết dùm hoặc đánh máy. Nhưng đối với việc không tự viết được mà phải nhờ người khác viết giúp thì theo như quy định của pháp luật hiện hành thì phải có phải có ít nhất là hai người làm chứng. Sau khi di chúc được soạn xong thì người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng và những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!