Tổng hợp

Công trái là gì? Các đặc điểm và phân loại công trái ở Việt Nam?

Công trái là gì? Các đặc điểm và phân loại công trái ở Việt Nam? Phân loại công trái. Lịch sử hình thành công trái. Đặc điểm của công trái/ trái phiếu. Mua trái phiếu Chính phủ có lợi gì? Việc đầu tư tài chính bằng cách mua trái phiếu chính phủ sẽ như thế nào?

Bạn đang xem: Công trái là gì? Các đặc điểm và phân loại công trái ở Việt Nam?

Công trái là một hình thức đầu tư có phần tin cậy lớn và mức độ rủi ro thấp. Khi tham gia vào quan hệ đầu tư này  bên chủ thể đi vay sẽ là nhà nước. Người cho vay sẽ được đảm bảo tài sản của mình bằng uy tín của nhà nước và đặc biệt là ngân sách nhà nước. Vậy công trái là gì?

1. Công trái là gì?

Công trái là khoản nợ vay của nhà nước hoặc chính quyền địa phương để chi tiêu cho mục đích công là hình thức tín dụng nhà nước, công trái  có thể được coi là biện pháp để chính phủ huy động nguồn lực tài chính của các thành phần trong xã hội  để từ đó thực hiện những mục tiêu  công của  nhà  nước đã đề ra.

Khi các thành phần trong xã hội cung cấp những khoản tài chính cho nhà nước lợi ích nhận được sẽ là nguồn lợi nhuận từ khác khoản cho vay này. Nguồn lợi nhuận hay còn gọi là lãi suất sẽ được quy định  cụ thể khi thực hiện các hoạt động cho vay.

So với các loại hình cho vay khác thì công trái được coi là an toàn hơn và có tính ổn định hơn. Nếu như các loại hình cho vay khác, chủ sở hữu tài sản phải  tìm hiểu người đi vay và chịu rủi ro khi đầu tư. Còn đối với hình thức này thì chủ thể được đảm bảo bằng uy tín nhà nước và đặc biệt là ngân sách nhà nước.

2. Công trái tiếng Anh là gì?

Công trái trong tiếng Anh được hiểu là Government Bonds.

Công trái là một hình thức tín dụng nhà nước, khoản nợ công trái được ghi trên giấy gọi là “phiếu (Xt. Công phiếu), việc vay của chính quyền nhà nước để bù đắp chỉ tiêu được áp dụng phổ biến ở các nước.

Công trái thu bằng đồng Việt Nam, và thanh toán bằng đồng Việt Nam. Trường hợp người mua công trái bằng vàng và ngoại tệ, sẽ được cơ quan phát hành chuyển đổi thành đồng Việt Nam.

Mục đích sử dụng công trái được quy định rõ ràng và cụ thể trong quy định của pháp luật, the đó công trái được sử dụng vào những mục đích công. Những hoạt động mà các chủ thể khác không đủ khả năng tài chính để làm hoặc không muốn làm.

Những hoạt động thực hiện này thường mang giá trị lớn, để thực hiện được phải  theo kế hoạch của nhà nước và tình hình phát triển của đất nước. Khi thực hiện những dự án công nói trên góp phần làm thúc đẩy phát triển đất nước tạo nguồn đầu tư lớn.

3. Phân loại công trái:

Công trái được phân chia làm nhiều loại, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có công trái trong nước và công trái ngoài nước; căn cứ vào thời hạn thanh toán nợ vay, có công trái ngắn hạn (dưới 1 năm), công trái trung hạn (từ 1 năm đến 5 năm), công trái dài hạn (từ 5 năm trở lên); căn cứ vào cấp chính quyền đứng ra tổ chức vay, có công trái của chính quyền trung ương (công trái Chính phủ), công trái của chính quyền địa phương.

Theo quy định của pháp luật, công trái được chia ra làm các loại sau:

+ Tín phiếu kho bạc: công trái có thời hạn dưới một năm được phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm ngân sách;

+ Trái phiếu kho bạc: Công trái có thời hạn từ một năm trở lên, được ban hành để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước và chỉ đầu tư phát triển;

+ Trái phiếu công trình: công trái có thời hạn từ một năm trở lên, nguồn vốn huy động được sử dụng để đầu tư cho từng công trình cụ thể. Công trái có thể chuyển nhượng hoặc không chuyển nhượng, công trái bằng tiền hoặc bằng hiện vật.

Công trái hay còn gọi là trái phiếu chính phủ được phát hành cho các chủ thể dưới đây:

+ Người Việt Nam trong và ngoài nước, người nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam.

+ Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi lĩnh vực và thành phần kinh tế kể cả các Ngân hàng Thương mại, các Tổ chức tín dụng, Công ty tài chính, Công ty Bảo hiểm, Quỹ bảo hiểm, Quỹ đầu tư…

+ Các hội và đoàn thể quần chúng.

+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng nếu được Bộ Tài chính xem xét chấp thuận, được mua trái phiếu.

4. Lịch sử hình thành công trái:

Trong lịch sử, công trái xuất hiện từ thời kì nhà nước chiếm hữu nô lệ. Nguyên tắc áp dụng công trái, có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc. Trong các xã hội trước đây, công trái trở thành đòn bẩy quan trọng nhất của tích luỹ nguyên thuỷ tư bản. Trong thời kì đế quốc, công trái là môi trường đầu tư có lợi cho các nhà tư bản tài chính, các nhà nước tư bản lũng loạn đều có số nợ rất lớn.

Ở Việt Nam, từ năm 1896 – 1938, chính quyền thực dân Pháp đã phát hành 13 lần công trái, gọi là công thải. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo Sắc lệnh số 112/SL ngày 16.7.1946, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phát hành đợt công trái đầu tiên để huy động vốn cho chính quyền cách mạng. Qua các thời kì cách mạng, Nhà nước phát hành nhiều đợt công trái với các tên gọi như: công phiếu kháng chiến, công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu công trình… Hiện nay, theo quy định của pháp luật, ở Việt Nam chỉ có chính quyền trung ương (Chính phú) phát hành trái phiếu (công trái). Công trái có thể chuyển nhượng hoặc không chuyển nhượng, công trái bằng tiền hoặc bằng hiện vật.

Công trái và trái phiếu chính phủ là hai thuật ngữ khác nhau nhưng cùng là một. Đây là tên gọi  khác của nhau  và cùng chỉ khoản nợ vay của nhà nước hoặc chính quyền địa phương để chi tiêu cho mục đích công là hình thức tín dụng nhà nước.

Trên thực tế nhiều  trường hợp nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ này, nhưng hiện tại thì thuật ngữ trái phiếu chính phủ được sử dụng với  mức đô rộng rãi hơn. Công trái là thuật ngữ trước đây được sử dụng nhiều.

5. Đặc điểm của công trái/ trái phiếu:

  • Bất cứ cá nhân hay doanh nghiệp hoặc chính phủ đều có thể mua trái chủ hoặc trái phiếu. Trên trái phiếu có thể ghi tên trái chủ được gọi là trái phiếu ghi danh hoặc có thể không ghi tên thì được gọi là trái phiếu vô danh.
  • Người cho nhà phát hành trái phiếu vay tiền gọi là trái chủ. Trái chủ không chịu trách nhiệm nào về hiệu quả sử dụng vốn vay từ người vay. Nhà phát hành có nghĩa vụ thanh toán số nợ như đã cam kết trong hợp đồng cho vay.
  • Người phát hành trái phiếu có thể là doanh nghiệp (còn được gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền công như: chính quyền (gọi là công trái hay trái phiếu chính phủ); kho bạc nhà nước (còn gọi là trái phiếu kho bạc).
  • Trái phiếu đem lại nguồn thu là tiền lãi. Đây là khoản thu cố định thường kỳ và không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh.
  • Bản chất của trái phiếu là chứng khoán nợ. Do đó khi công ty bị phá sản, giải thể thì cổ phần của công ty trước hết phải thanh toán cho những người nắm giữ trái phiếu trước đó. Được xem như là một nghĩa vụ bắt buộc. Sau khi trả nợ trái phiếu thì cổ phần mới được chia cho những cổ đông.

6. Mua trái phiếu Chính phủ có lợi gì?

Trái phiếu chính phủ (còn gọi là công trái hoặc công khố phiếu) là trái phiếu được phát hành bởi chính phủ một quốc gia. Trái phiếu Chính Phủ phát hành thông thường có những thông tin sau : Tổng giá trị trong đợt phát hành, hình thức trái phiếu có ghi sổ người mua  hoặc không ghi sổ; tiền kỳ hạn sẽ hoàn trả vốn cho người mua (thông thường thấp nhất là 3 năm); lãi suất trả hàng năm cho người mua và mệnh giá phát hành (tại VN thấp nhất là 100.000 VNĐ).

Về lợi ích cơ bản, người mua sẽ được hưởng lãi suất đã công bố, Thí dụ lãi suất cho trái phiếu kỳ hạn 5 năm đợt mới phát hành tháng 1 năm 2016 của Chính phủ vào khoản 6,8%.

Một lợi ích quan trọng của Trái phiếu chính phủ là tính an toàn, thường được coi là không có rủi ro. Do vậy mặc dù lãi suất có thể thấp hơn tiền gửi ngân hàng hay đầu tư vào bất động sản và Chứng khoán thì trái phiếu Chính phủ luôn luôn được nhà đầu tư quan tâm.

Người nắm giữ trái phiếu còn có một lợi ích là tính thanh khoản của trái phiếu Chính phủ rất cao. Khi cần tiền, nhà đầu tư có thể bán hoặc thế chấp để chuyển thành tiền mặt rất nhanh hơn hẳn bất động sản và chứng khoán.

Ngoài ra, giá thị giá trái phiếu sẽ tăng nếu như các kênh đầu tư rủi ro như bất động sản và CK gặp khó khăn và ngược lại. Do vậy Trái phiếu chính phủ cũng có thể đem lại lợi nhuận gia tăng (và thua lổ) cho các nhà đầu tư khi mua – bán lại trái phiếu theo từng thời điểm.

7. Việc đầu tư tài chính bằng cách mua trái phiếu Chính phủ sẽ như thế nào?

Hiện nay tại Việt Nam, đầu tư trái phiếu Chính phủ theo hai hình thức. Trên thị trường sơ cấp là mua trái phiếu trong đợt phát hành lần đầu; và thị trường thứ cấp là việc mua – bán trái phiếu của những người đang nắm giữ.

Hiện nay để mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường sơ cấp của VN theo từng đợt phát hành chỉ do các tổ chức tài chánh lớn như Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, Bảo hiểm và Quỹ đầu tư… Việc mua trái phiếu theo hình thức đấu giá, tổ chức nào đưa ra mức lãi suất mà Chính phủ phải trả thấp hơn sẽ thắng. Ngày 13/1/2016, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã tổ chức phiên đấu thầu trái phiếu Chính phủ  với tổng khối lượng gọi thầu 4.000 tỷ đồng gồm 2 loại kỳ hạn: 3 năm (2.000 tỷ đồng) và 5 năm (2.000 tỷ đồng). Theo đó, trái phiếu kỳ hạn 5 năm có 9 thành viên tham gia dự thầu, và vùng lãi suất đặt thầu nằm trong khoảng 6,58 – 7,20%/năm. Kết quả, huy động được 160 tỷ đồng, với lãi suất trúng thầu 6,58%/năm.

Việc đầu tư TPCP trên thị trường thứ cấp dành cho mọi nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư cá nhân thông qua việc mua bán theo lệnh chào mua – bán tương tự đầu tư cổ phiếu. Thí dụ hiện nay Ngân hàng Sacombank  tổ chức mua bán lẻ Trái phiếu Chính phủ (Retail bond) cho nhà đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư xem thông tin căn cứ vào thông tin chào giá trên website Sacombank hoặc thông qua Chi nhánh/Phòng giao dịch (CN/PGD), để thỏa thuận thực hiện giao dịch; Giá trị giao dịch tối thiểu giữa Sacombank và khách hàng cá nhân là 100 triệu đồng/ giao dịch; đối với khách hàng doanh nghiệp là 300 triệu đồng/ giao dịch.

Như đã nêu trên về các lợi ích của trái phiếu. Trái phiếu Chính phủ được xem là không có rủi ro, giúp nguồn vốn đầu tư được bảo toàn gần như tuyệt đối, đồng thời thu nhập ổn định từ lợi tức nhận hàng năm và không phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Mặc dù thời gian nhận lại vốn khá dài, do cần tiền nhà đầu tư có thể cầm cố lại hoặc bán lại dể dàng. Với những ưu điểm đó thì TPCP là kênh đầu tư quan trọng của những tổ chức tài chánh có nguồn tiền lớn, đòi hỏi tính an toàn trong đầu tư như các công ty Bảo hiểm nhân thọ, các quỹ đầu tư an toàn, Quỹ hưu trí tự nguyện.

Đối với nhà đầu tư cá nhân tìm kiếm sự an toàn, nếu so sánh với lãi suất tiền gửi tiết kiệm NHTM trong đặc thù VN cũng rất an toàn do có sự bảo hộ của Chính Phủ thì việc đầu tư trái phiếu CP để hưởng lãi chưa đủ hấp dẩn, Tuy nhiên, khi lãi suất ngân hàng có xu hướng giảm dần, giá trị VNĐ ổn định; đồng thời  với cơ chế NH có thể bị phá sản làm tăng rủi ro của người gửi tiền thì nhà đầu tư cá nhân, thì kênh đầu tư này cũng dần dần trở nên khá hấp dẫn như các nước phát triển.

Hiện nay, việc đầu tư TPCP có thể tăng hấp dẩn, tạo ra lợi nhuận cao nếu nhà đầu tư thực hiện phương thức mua – bán theo từng thời điểm dựa trên sự đánh giá về kinh tế vĩ mô, sự biến động của các kênh đầu tư. Trong thực tế, một số nhà đầu tư mua TPCP trong giai đoạn 2010 – 2011, lúc đó thị giá TPCP xuống thấp do lãi suất NH quá cao, và  đã thu lợi rất lớn khi bán lại vào năm 2013 khi thị giá TPCP lên cao vì lãi suất huy động NHTM giảm mạnh. Tất nhiên để “lướt sóng trái phiếu Chính phủ”, nhà đầu tư cần có khả năng phân tích kinh tế vĩ mô tốt, nhận định được thời điểm đầu tư và có một phần chấp nhận rủi ro.

Kết luận: Hiện nay công trái đã được thay thể bởi thuật ngữ trái phiếu Chính phủ, tuy nhiên thuật ngữ công phiếu vẫn được sử dụng ý nghĩa một khoản vay tín dụng nhà nước cho mục đích công. Công trái là một hình thức đầu tư có phần tin cậy lớn và mức độ rủi ro thấp. Khi tham gia vào quan hệ đầu tư này bên chủ thể đi vay sẽ là nhà nước. Người cho vay sẽ được đảm bảo tài sản của mình bằng uy tín của nhà nước và đặc biệt là ngân sách nhà nước.

Đăng bởi: AZ Solutions

Chuyên mục: Tổng hợp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!